Kháng insulin là một tình trạng sinh lý trong đó các tế bào không phản ứng bình thường với hormone insulin, do đó các mô (đặc biệt là cơ xương, gan và mô mỡ) cần lượng insulin cao hơn để hấp thụ và dự trữ glucose cũng như để ức chế sản xuất glucose của gan.
Quá trình phát triển và hậu quả của nó.
-
Vai trò bình thường của insulin: sau bữa ăn, tuyến tụy tiết ra insulin, chất này liên kết với các thụ thể trên các tế bào đích và kích hoạt quá trình hấp thu glucose (cơ/mô mỡ) và dự trữ (gan) để giữ lượng đường trong máu ở mức bình thường.
-
Trong tình trạng kháng insulin, các phản ứng của tế bào bị suy giảm, do đó tuyến tụy sẽ bù đắp bằng cách tiết ra nhiều insulin hơn (tăng insulin máu); theo thời gian, sự bù đắp này có thể thất bại và lượng đường trong máu tăng lên, dẫn đến tiền tiểu đường và tiểu đường loại 2.
-
Các hậu quả về chuyển hóa bao gồm đường huyết cao, rối loạn lipid máu (triglyceride cao, HDL thấp), tăng huyết áp, gan nhiễm mỡ (NAFLD), viêm mãn tính, rối loạn chức năng nội mô và tình trạng tăng đông máu.
Các yếu tố thúc đẩy chính và yếu tố rủi ro
-
Lượng mỡ thừa, đặc biệt là mỡ nội tạng/mỡ bụng, là một yếu tố thúc đẩy mạnh mẽ; mỡ tích tụ bất thường ở gan và cơ làm trầm trọng thêm quá trình truyền tín hiệu insulin.
-
Ít vận động, chế độ ăn nhiều calo/nhiều tinh bột tinh chế và rối loạn giấc ngủ (ví dụ: ngưng thở khi ngủ) làm tăng nguy cơ.
-
Yếu tố di truyền, tuổi cao, một số nguồn gốc dân tộc, một số loại thuốc (steroid, một số thuốc chống loạn thần, một số thuốc điều trị HIV) và các bệnh lý về nội tiết tố (hội chứng Cushing, hội chứng buồng trứng đa nang) cũng làm tăng nguy cơ.
Chẩn đoán lâm sàng và các xét nghiệm thông thường
-
Tình trạng kháng insulin thường không có triệu chứng và được phát hiện thông qua các xét nghiệm sàng lọc: đường huyết lúc đói, HbA1c (A1C) và xét nghiệm dung nạp glucose đường uống có thể cho thấy sự rối loạn điều hòa glucose; các chỉ số thay thế (HOMA-IR sử dụng insulin và glucose lúc đói) ước tính độ nhạy insulin trong nghiên cứu/lâm sàng.
-
Chỉ số A1C ở mức tiền tiểu đường (ví dụ: 5,7–6,4%) hoặc đường huyết lúc đói cao cho thấy hoạt động của insulin bị suy giảm và cần can thiệp y tế hoặc thay đổi lối sống.
Chiến lược quản lý và đảo ngược
-
Giải pháp đầu tiên: thay đổi lối sống—giảm cân (nếu cần), tăng cường hoạt động thể chất (cả aerobic và tập luyện sức mạnh), và thay đổi chế độ ăn uống để giảm lượng calo dư thừa và cải thiện chất lượng chất dinh dưỡng đa lượng—có thể cải thiện đáng kể độ nhạy insulin và thường đảo ngược tình trạng tiền tiểu đường.
-
Các biện pháp khác: cải thiện giấc ngủ, giảm căng thẳng mãn tính, bỏ hút thuốc và điều trị các bệnh lý góp phần gây ra tình trạng này (ví dụ: ngưng thở khi ngủ); có thể sử dụng thuốc (metformin và các loại khác) khi các biện pháp thay đổi lối sống không hiệu quả.
-
Quan điểm mới nổi: Tình trạng tăng insulin máu mãn tính có thể tự gây ra kháng insulin, vì vậy các biện pháp can thiệp nhằm giảm tiếp xúc với insulin (giảm cân, ăn uống hạn chế thời gian, giảm lượng tinh bột tinh chế) đôi khi được sử dụng để giảm rối loạn chuyển hóa.
Những dấu hiệu thực tế cần chú ý
-
Nhiều người không có triệu chứng cho đến khi lượng đường trong máu tăng cao đáng kể; các dấu hiệu của tăng đường huyết bao gồm khát nước nhiều, đi tiểu thường xuyên, nhìn mờ, vết thương chậm lành và nhiễm trùng tái phát.
-
Các bất thường trong xét nghiệm thường xuất hiện trước khi có triệu chứng: đường huyết lúc đói tăng cao, chỉ số A1C ở mức tiền tiểu đường, triglyceride cao và HDL thấp, cùng với men gan tăng cao (gợi ý bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu) là những dấu hiệu thường gặp.
Minh họa ngắn gọn
-
Sau bữa ăn có chứa carbohydrate, người có độ nhạy insulin bình thường chỉ cần tăng lượng insulin vừa phải để loại bỏ glucose; người kháng insulin cần phản ứng insulin lớn hơn nhiều để đạt được hiệu quả loại bỏ glucose tương tự, điều này theo thời gian gây căng thẳng cho các tế bào beta tuyến tụy và làm tăng nồng độ insulin và glucose lúc đói.

(St.)
Ý kiến bạn đọc (0)